Cử Nhân, Kỹ Sư thất nghiệp: Bài toán chưa có Lời Giải

Tôi lớn lên ở một vùng quê nghèo đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1990, tôi tốt nghiệp phổ thông trung học. Lúc đó, đất nước đang ở vào thời kỳ đầu đổi mới. Cảnh sắc, đất trời, kinh tế xã hội thay đổi từng ngày. Một không khí đầy mới mẻ, lạc quan và hy vọng. Tuy học hành thiếu định hướng, không chăm, không giỏi nhưng năm cuối cấp tôi cùng các bạn phấn khởi, tràn đầy niềm tin vào tương lai tốt đẹp đang ở phía trước. Chúng tôi đăng ký thi đại học. Lúc đó ước mơ của chúng tôi rất rõ ràng: Cổng trường Đại học, một công việc hấp dẫn ở nơi thị thành. Thế hệ chúng tôi rất tin vào những cơ hội mà chúng tôi sẽ được dự phần ở tương lai khi đất nước mở cửa, rất háo hức và đầy hy vọng. Đó chính là động lực để chúng tôi vui vẻ, kiên trì thực hiện ước mơ quyết tâm vượt qua cánh cổng trường đại học. 

Dù học ngoại ngữ ở miền quê, chẳng biết quyển từ điển là gì, và chỉ mới học tiếng Anh từ năm lớp 10 nhưng tôi vẫn quyết thi vào trường Đại Học Ngoại Ngữ. Không hề thối chí nản lòng dù thất bại, đến tận lần thi thứ 3 tôi mới đỗ. Nhà có 2 rồi 3 anh em cùng học một lúc nên suốt trong quá trình học đại học, tôi luôn phải chạy đôn đáo, dạy thêm, trực khách sạn, mở trung tâm gia sư để kiếm sống. Năm 1997, khi  tôi tốt nghiệp đại học và chẳng mấy khó khăn tôi tự xin được một công việc đúng với ngành học. Vào thời điểm lúc bấy giờ, chúng tôi đã rất may mắn vì có nhiều cơ hội việc làm khi ra trường.

Cũng là cơ duyên, đã hơn mười năm nay, tôi liên tục làm việc liên quan đến lĩnh vực tuyển dụng, việc làm và điều đáng buồn là chưa bao giờ tôi thấy các bạn trẻ lại có ít cơ hội tìm được công việc như hiện nay. Phần lớn những kỹ sư, cử nhân trẻ tôi gặp là những người bế tắc, không có hy vọng đang thất nghiệp. Họ thậm chí tuyệt vọng sau những ngày dài tìm việc khắp nơi. Tình trạng kỹ sư, cử nhân ra trường không có việc làm đang là vấn đề rất nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Vấn đề đó đang ảnh hưởng tiêu cực lên cuộc sống của rất nhiều người, bào mòn niềm tin và gây ra tác động xấu lên toàn xã hội. Tuy nhiên, nguyên nhân của thực trạng này chưa được phân tích một cách tổng thể, khách quan, chưa có một cơ quan cấp bộ, ngành nào được giao trách nhiệm cụ thể để từng bước khắc phục tình trạng thất nghiệp tràn lan hiện nay cũng như trong nhiều năm tới. Nếu hiện đã có cơ quan được phân công thì việc thực thi rõ ràng là chưa hiệu quả. Chúng ta đang rất cần một cơ quan đầu mối để điều phối, khuyến nghị, chế tài đối với hệ thống đào tạo, dạy nghề, doanh nghiệp và người lao động, đồng thời tư vấn hiệu quả cho chính phủ về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, lao động và việc làm.  

Sinh viên đối mặt với nguy cơ thất nghiệp khi ra trường -  Hình minh họa

Sinh viên đối mặt với nguy cơ thất nghiệp khi ra trường -  Hình minh họa

Trong khuôn khổ loạt bài viết về chủ đề này, với thái độ xây dựng, chia sẻ ý kiến, không phê phán cực đoan, tôi xin nêu góc nhìn của tôi, rất mong được độc giả quan tâm, phản hồi hầu góp những tiếng nói phản biện về vấn đề đang được nhiều người quan tâm.

Như các bạn đã biết, đất nước Việt Nam ta có diện tích rất khiêm tốn chỉ đứng thứ 65 trên thế giới nhưng dân số hiện lên đến 90 triệu người đứng thứ 13 thế giới. Do đó áp lực việc làm là rất lớn.   

Khi còn học ở trường đại học các bạn có đặt ra tình huống sẽ ra nước ngoài làm việc khi cơ hội ở Việt Nam là khó khăn? 

Tôi đã nghiêm túc đặt câu hỏi này với nhiều bạn trẻ những người đến gặp tôi để tìm kiếm thông tin việc làm. Khoảng 85% trong số họ trả lời: không nghĩ đến tình huống này. Tôi phát hiện ra rằng họ thiếu thông tin về lao động, việc làm ngay với thị trường trong nước chứ chưa nói đến thị trường khu vực, quốc tế. Do Thiếu thông tin nên họ đăng ký cả những ngành mà xã hội không có nhu cầu, thậm chí những ngành hoan toan không phù hợp với sở trường, năng lực cá nhân. Cũng một phần do thiếu thông tin nên trong suốt quá trình học tập họ không có định hướng, thụ động, không trui rèn chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm thực tế… để rồi ra trường thất nghiệp.

Vậy 15% còn lại thì sao? Phần lớn trong số họ cũng gặp phải những vấn đề tương tự và cả những vấn đề khác khó khăn hơn: Tiếng Anh hạn chế, các kỹ năng công việc yếu, và đặc biệt họ không được đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp tương thích với các nước trong khu vực và Quốc Tế. Rất ít trong số họ sẽ vượt qua các đợt tuyển dụng ở những thị trường ngoài Việt Nam.

Thực tế là sau hơn 20 năm đổi mới, hội nhập Việt Nam hiện vẫn chưa xây dựng được Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp Quốc Gia (National Occupational Standard). Tôi xin khẩn thiết đề xuất với cơ quan có trách nhiệm (có thể là Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội hoặc Bộ Giáo Dục Đào Tạo nơi được chính phủ giao nhiệm vụ) rằng chúng ta cần thành lập một đội ngũ chuyên gia những người có kinh nghiệm, tâm huyết để khẩn trương xây dựng Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp Quốc Gia. Bộ Tiêu Chuẩn này cần tham chiếu từ các Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp Quốc Gia của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Đối chiếu với hoàn cảnh của các doanh nghiệp và thị trường lao động việc làm tại Việt Nam hiện nay. Khi Việt Nam có Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp tương thích thì sản phẩm của quá trình đào tạo: các kỹ sư, cử nhân, người lao động sẽ dễ dàng hơn khi tìm cơ hội việc làm ở các thị trường khác ngoài Việt Nam. Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp sẽ thường xuyên được cập nhật để mang tính thực tiễn.

Bộ Tiêu Chuẩn Nghề Nghiệp Quốc Gia sẽ không có nghĩa lí gì nếu chúng ta không đưa nó vào áp dụng. Do đó công việc tiếp theo, Nhà nước cần chỉ định một cơ quan đầu mối đủ mạnh với các chế tài, biện pháp, cách thức để đưa học sinh/sinh viên, hệ thống đào tạo, dạy nghề, các trường đại học, doanh nghiệp thực hiện đồng bộ hóa từ khâu đào tạo, thực tập đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Mối quan hệ cần có của các chủ thể trong việc vận hành hệ thống giáo dục - đào tạo và tuyển dụng

Mối quan hệ cần có của các chủ thể trong việc vận hành hệ thống giáo dục - đào tạo và tuyển dụng

Tôi mạn phép đưa ra một ví dụ về tính hiệu quả của việc thực tập, thực hành tại doanh nghiệp khi chúng ta có một cơ quan chuyên trách về Nguồn nhân lực, Đào tạo, Việc làm. Cơ quan này sẽ đưa ra chế tài bắt buộc, giao chỉ tiêu đến các doanh nghiệp dựa trên quy mô sản xuất, đặc thù ngành sản xuất, doanh thu… Doanh nghiệp phải có trách nhiệm tiếp nhận học sinh, sinh viên, người lao động sau đào tạo lí thuyết đến thực tập hoặc đào tạo thực tế công việc tại cơ sở. Chúng ta không chấp nhận tình trạng doanh nghiệp chỉ muốn lấy nguồn nhân lực có chất lượng, đã có kinh nghiệm nhưng lại không sẵn sàng tham gia vào khâu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.  Cơ quan này sẽ có chế tài đối với những doanh nghiệp nào từ chối cho sinh viên thực tập sẽ bị phạt bằng một khoản tiền nhất định để doanh nghiệp khác cùng ngành đào tạo thay với khoản tiền thưởng vượt chỉ tiêu tương ứng…. đây được coi như trách nhiệm của doanh nghiệp đóng góp vào công cuộc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn xã hội.

( Kỳ sau chúng tôi tiếp tục mạn bàn thêm về vấn đề này….rất mong nhận được sự phản hồi của quý độc giả để chúng ta cùng chia sẻ quan điểm)

Đào Trung Kiên - Vungtaujobs.com 

Ý kiến phản hồi